Tri thức là sức mạnh!

Chúc các Anh/Chị thành công!


Phạm Phúc Vĩnh

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Nhận thức khách quan trong sử học

  •   HOÀNG HỒNG
  • Thứ tư, 14 Tháng 3 2012 21:49
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Nhận thức lịch sử có thể là nhận thức khách quan hay không luôn là câu hỏi lớn đặt ra cho mọi thời đại sử học. Những lí giải khác nhau thậm chí là mâu thuẫn nhau của các trường phải sử học trên thế giới về tính chất của nhận thức lịch sử cho thấy đây là vấn đề phức tạp và không dễ dàng có sự đồng thuận.
Nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình hình trên xuất phát từ hai điểm. Thứ nhất, đối tượng nhận thức của sử học là một hiện thực đã diễn ra trong quá khứ, chỉ xảy ra một lần và không lặp lại. Giữa nhà sử học với đối tượng nghiên cứu của mình luôn có một khoảng cách về thời gian, đó là khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại. Nhà sử học (chủ thể nhận thức) không thể quan sát trực tiếp đối tượng nhận thức vì đối tượng nhận thức của nhà sử học không còn hiện hữu. Điều này dẫn đến một câu hỏi gây tranh luận là: Lịch sử tồn tại hay không tồn tại. Thứ hai, chủ thể nhận thức lịch sử - nhà sử học, luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là sự chi phối của hệ thống giá trị. Các nhà sử học thừa nhận các hệ thống giá trị khác nhau tất yếu dẫn đến những kết quả nhận thức lịch sử khác nhau, vì thế đặt ra vấn đề là có sự khách quan trong nhận thức lịch sử không và đâu là thực tiễn để kiểm tra chân lí lịch sử?
Nửa đầu thế kỉ XIX, trường phái Sử học khách quan do nhà sử học Đức L. V. Ranke xây dựng đã nhấn mạnh đến yếu tố khách quan trong sử học. Ranke cho rằng, sử học không đánh giá quá khứ cũng không dạy dỗ người đương thời, nhiệm vụ của nhà sử học là lạnh lùng mô tả khách quan sự kiện “như nó đã tồn tại trên thực tế” (Wiees eigentlich ge wesen). Từ những sự kiện đó mà lịch sử được cấu tạo nên và để cho người đọc tự diễn giải. Nhà sử học không cần đưa vào bất cứ một suy diễn lí thuyết nào. Con đường nhận thức lịch sử được Ranke luận giải theo tinh thần của chủ nghĩa khách quan tuyệt đối như sau: (1) Lịch sử bao gồm những sự kiện tồn tại khách quan, nó có một hình dáng cho trước, một cấu trúc xác định và tiếp cận trực tiếp với tri thức. (2) Không có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chủ thể nhận thức (nhà sử học) với đối tượng nhận thức (sự kiện lịch sử). Nhà sử học cần thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội, điều đó cho phép họ khách quan khi mô tả các sự kiện. (3) Mối quan hệ nhận thức phù hợp với một khuôn mẫu máy móc, nhà sử học mô tả sự kiện một cách thụ động như chiếc gương phản chiếu hình của một vật, như chiếc máy ảnh chụp một cảnh nào đó.
Trường phái Sử học thực chứng nửa sau thế kỉ XIX kế thừa những luận điểm của trường phái Sử học khách quan nhưng đặt trọng tâm của sự khách quan vào các tài liệu lịch sử. Langlois và Seignobos, hai đại biểu lớn nhất của trường phái Sử học thực chứng nêu khẩu hiệu “Lịch sử được tạo ra từ các tài liệu” (L’histore se fait avec des documents), mô tả lịch sử là mô tả trật tự của các tài liệu, hoạt động cơ bản của nhà sử học là làm việc với tài liệu. Trường phái Sử học thực chứng xây dựng một hệ thống qui tắc mang tính chất kĩ thuật để khai thác thông tin lịch sử từ các văn bản tài liệu. Khi chứng minh được sự xác thực của tài liệu và độ tin cậy của thông tin lịch sử trong tài liệu thì nhà sử học có thể kết luận về sự khách quan trong sử học.
Trường phái Sử học phản thực chứng đầu thế kỉ XX bác bỏ hoàn toàn những luận điểm của Sử học thực chứng. Họ không công nhận có một khái niệm “khách quan” trong sử học và luôn nhấn mạnh đến yếu tố chủ quan của nhà sử học. Hai luận điểm cơ bản của họ là: (1) Bộ phận quan trọng nhất của hiện thực lịch sử là tư tưởng, ý thức của con người, do đó nhận thức lịch sử chủ yếu là nhận thức tư tưởng, ý thức của con người; (2) Lịch sử trên thực tế không còn tồn tại nên quá trình nhận thức lịch sử không phải là sự phản ánh mà là sự cải biên lại, sắp xếp lại và giản lược lịch sử. Đóng vai trò quan trọng trong nhận thức lịch sử là sự tưởng tượng hư cấu, suy diễn thông qua tư tưởng của người nhận thức nên “mọi lịch sử đều là lịch sử tư tưởng” hoặc “mọi lịch sử đều là lịch sử hiện đại”.
Trường phái Sử học mới hoạt động trong nửa sau thế kỉ XX, muốn xây dựng một kết cấu lịch sử 3 tầng bao gồm toàn bộ những yếu tố liên quan đến hoạt động của con người: (1) Kinh tế - nhân khẩu; (2) Trạng thái và xu thế xã hội; (3) Văn hoá, tôn giáo, chính trị. Khi luận giải về tính chất của nhận thức lịch sử, Sử học mới nhấn mạnh trước hết đến vai trò chủ quan của người nhận thức và coi đó là yếu tố bao trùm toàn bộ hoạt động sử học. Sự chủ quan của nhận thức lịch sử thể hiện ở hai điểm. Thứ nhất, trong mọi công trình sử học đều có dấu ấn tư tưởng, tình cảm cá nhân của người viết sử. Thứ hai, nhà sử học là người lựa chọn và định đoạt lịch sử. Trong đại dương mênh mông các sự kiện, nhà sử học chỉ trục vớt lên những sự kiện mà theo quan điểm của ông ta là quan trọng và có tính lịch sử, vô số các sự kiện khác sẽ bị chìm vào quên lãng. Vì thế, Sử học mới khẳng định rằng, viết sử là cách duy nhất để tạo ra lịch sử.
Sử học mới thừa nhận có nhân tố khách quan trong sử học nhưng lại cho rằng đó không phải là tính khách quan của đối tượng nghiên cứu mà chỉ là tính khách quan của quá trình nghiên cứu, của mối liên hệ giữa sự thực và giải thích, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. E. N. Carr, một đại diện của trường phái Sử học mới định nghĩa sử học “là quá trình liên tục không ngừng tác động lẫn nhau giữa nhà sử học với lịch sử, là sự đàm thoại, hỏi và trả lời không bao giờ ngừng giữa hiện tại và quá khứ”.
Quá trình tương tác giữa nhà sử học với lịch sử có thể tìm ra chân lí hay không? Sử học mới lí giải rằng, khi nhà sử học nhận biết được những hạn chế mang tính qui định của các thời đại trong quá khứ, trong hiện tại, thậm chí là trong cả tương lai, thiết lập một hệ thống chuẩn mực để giải thích và đánh giá lịch sử, hệ thống này mang tính xuyên suốt và không bị tác động của những hạn chế thời đại, đến lúc đó, nhà sử học đạt được sự khách quan.
Trường phái Sử học mác-xit ra đời dưới ảnh hưởng trực tiếp của chủ nghĩa Mác. Dựa trên cơ sở các nguyên lí của chủ nghĩa duy vật lịch sử và thuyết phản ánh của Lê nin, Sử học mác-xít khẳng định sự tồn tại khách quan của lịch sử và khả năng đạt tới chân lí trong nhận thức lịch sử. Các luận điểm cơ bản của Sử học mác-xít như sau:
- Lịch sử (quá trình phát triển của xã hội loài người) là một hiện thực đã diễn ra trong quá khứ, tồn tại độc lập khách quan, là đối tượng nghiên cứu của sử học.
- Khoa học lịch sử có khả năng nhận thức được lịch sử nhưng không phải là nhận thức trực quan, tuyệt đối mà là quá trình tiệm cận với lịch sử, chân lí trong sử học mang tính chất tương đối.
- Nhà sử học, chủ thể của nhận thức lịch sử, luôn để lại dấu ấn chủ quan trong tất cả các khâu của hoạt động nhận thức. Cũng giống như mọi thành viên xã hội khác, nhà sử học luôn thuộc về một giai cấp nhất định và do đó luôn mang quan điểm giai cấp để khôi phục sự kiện và giải thích lịch sử. Trong thời hiện đại, nhà sử học dựa trên lập trường của giai cấp vô sản để lí giải lịch sử thì có khả năng thiết lập được sự phù hợp giữa cái chủ quan của người nghiên cứu với cái khách quan của hiện thực lịch sử. Lập trường giai cấp chính là tính đảng trong sử học mác-xít và ở đây tính đảng và tính khoa học có sự thống nhất.
Các trường phái sử học trên đây đều đã hoặc đang chi phối hoạt động của sử học. Trong tiến trình sử học thế giới, các trường phái này kế tiếp nhau hoặc đồng thời tồn tại, hoạt động một cách độc lập, ảnh hưởng trong một phạm vi nhất định và không thừa nhận các lập luận của nhau.
Mỗi trường phái sử học, xét ở mặt nào đó, có thể được coi như một giai đoạn phát triển trong tiến trình sử học của nhân loại. Chắt lọc từ những điểm tích cực của các trường phái, có thể nêu những yếu tố ảnh hưởng hoặc qui định đến sự khách quan trong nhận thức lịch sử như sau:
Vai trò của sử liệu
Khái niệm lịch sử, xét ở góc độ bản thể luận là một hiện thực đã diễn ra trong quá khứ, tồn tại độc lập khách quan, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có sử học. Khi tiếp cận với lịch sử, nhà sử học tiếp cận với một đối tượng không còn hiện hữu. Việc xác định sự kiện lịch sử có tồn tại hay không phải dựa vào những dấu tích lịch sử từ quá khứ để lại, đó là những thông tin lịch sử từ các nguồn sử liệu. Trong qui trình nghiên cứu lịch sử, sử liệu đóng vai trò trung gian giữa lịch sử và nhà sử học:
              Lịch sử             Sử liệu             Nhà sử học
Lịch sử được phản ánh trong sử liệu, nhà sử học biết được lịch sử thông qua sử liệu. Như vậy, sử liệu là chứng cứ để xác định sự tồn tại của lịch sử. Vì tính chất đặc biệt quan trọng này của sử liệu nên làm việc với sử liệu là công việc quan trọng hàng đầu có ý nghĩa quyết định của nhà sử học trong quá trình khôi phục lịch sử. Sử liệu là tài sản quí giá nhất của nhà sử học.
Nhà sử học làm việc với sử liệu là thực hiện những thao tác nghiệp vụ để khai thác được những thông tin lịch sử từ các nguồn sử liệu. Sử liệu học chia các nguồn sử liệu thành hai nhóm: Sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp. Sử liệu trực tiếp cung cấp những thông tin lịch sử trực tiếp cho người nghiên cứu, giữa người nghiên cứu với lịch sử không có vai trò thông tin trung gian. Sử liệu gián tiếp cung cấp những thông tin lịch sử gián tiếp cho người nghiên cứu, giữa người nghiên cứu với lịch sử có vai trò thông tin trung gian. Trước các nguồn sử liệu trên, nhà sử học nhất thiết phải có ý thức phê phán. Việc nắm vững qui trình phê phán sử liệu và biết áp dụng trong các trường hợp cụ thể khi làm việc với nguồn là phẩm chất hàng đầu của nhà sử học.
Những thông tin lịch sử tin cậy sẽ giúp nhà sử học khôi phục được những sự kiện lịch sử đúng với thực tế. Khi làm được điều đó thì bản thân sự kiện đã nói được nhiều điều. Sự kiện lịch sử được xây dựng nên trước hết bởi những “chất liệu” bất biến. Các yếu tố thời gian, không gian, nội dung sự cố chỉ một lần xuất hiện và không lặp lại, đó là “phần cứng” của sự kiện. Các yếu tố này khiến cho bất kì một ý đồ nào muốn làm sai lệch nhận thức thì cũng khó có thể thực hiện. Có thể coi đây là bộ phận của thực tiễn để kiểm tra chân lí trong sử học.
Vai trò của tri thức ngoài sử liệu
Tri thức là một trong những cơ sở quan trọng để con người nhận thức thế giới nói chung và hiện thực lịch sử nói riêng. Nhà sử học khi nhận thức lịch sử phải dựa trên một nền tảng tri thức nhất định. Nền tảng tri thức đó là tri thức tổng quát của nhà sử học hay tri thức ngoài sử liệu. Tri thức tổng quát của nhà sử học được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: Tri thức thường ngày, tri thức lịch sử (hay tri thức chuyên môn) và tri thức của các ngành khoa học khác. Kết quả nhận thức lịch sử được qui định bởi một phần tri thức tổng quát của nhà sử học. Nhà sử học có tri thức học vấn cao thì khả năng khôi phục lịch sử và nhận xét đánh giá lịch sử sẽ thuận lợi và chính xác hơn.
Quá trình nhận thức lịch sử và tích luỹ tri thức lịch sử của nhà sử học không diễn ra một chiều mà là chu trình khép kín. Dựa trên nền tảng tri thức tổng quát vốn có của mình, nhà sử học nhận thức lịch sử, rút ra những tri thức mới về lịch sử và những tri thức này, đến lượt nó, lại quay trở lại làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhà sử học, tạo nền tảng vững chắc hơn cho các quá trình nhận thức lịch sử tiếp theo. Quá trình này diễn ra không ngừng và theo thời gian, vốn tri thức tổng quát của nhà sử học càng trở nên nhiều hơn. Lịch sử luôn được viết lại do những tri thức lịch sử ngày một tăng, tri thức lịch sử tăng thì nhận thức lịch sử ngày một chính xác. Như vậy, tri thức của nhà sử học, với sự bổ sung không ngừng từ kết quả nhận thức, góp phần làm tăng sự khách quan trong nhận thức lịch sử của nhà sử học.
Trong vốn tri thức ngoài sử liệu của nhà sử học, tri thức của các ngành khoa học khác, nhất là các khoa học xã hội nhân văn, có vai trò đặc biệt với nhận thức lịch sử. Các ngành khoa học xã hội nhân văn có mục tiêu chung là mang lại những hiểu biết về con người và xã hội loài người. Trong quá trình hoạt động, tri thức của các ngành khoa học này tăng lên không ngừng và bổ sung cho nhau (liên ngành) làm kết quả nghiên cứu của các ngành ngày càng phù hợp với nhau, từ đó hình thành những cấu trúc lí thuyết chung mà nhà sử học có thể khai thác để bổ sung hoặc soi dọi kết quả nghiên cứu của mình.
Khi viết về tầm quan trọng của tri thức ngoài sử liệu với kết quả nhận thức lịch sử, nhà sử học Topolski đánh giá rằng: “Chỗ dựa chủ yếu cho tính khách quan trong sử học nằm trong lĩnh vực tri thức ngoài sử liệu”.
Vai trò của chủ thể nhận thức
Bao trùm trong nhận thức lịch sử là vai trò chủ quan của nhà sử học. Nhà sử học không phải là một chiếc máy ảnh hay một tấm gương soi để sao chụp hoặc phản chiếu trung thành hiện thực lịch sử. Hoạt động nghiên cứu lịch sử cũng không phải là hoạt động mang tính kĩ thuật cơ học. Nhà sử học, với tính cách là chủ thể hoạt động, nhận thức lịch sử thông qua lăng kính chủ quan của mình. Yếu tố chủ quan của nhà sử học thể hiện trong tất cả các công đoạn của qui trình nghiên cứu đặc biệt là khâu lựa chọn sự kiện, giải thích sự kiện và đánh giá lịch sử. Như vậy, để xác định nhận thức của nhà sử học có khả năng mang tính khách quan hay không cần kiểm tra bản thân nhà sử học bằng cách xem xét những yếu tố đã tác động đến quá trình nhận thức của nhà sử học đồng thời là thái độ của nhà sử học trước những tác động đó.
Yếu tố tác động lớn nhất đến nhận thức của nhà sử học là hệ thống giá trị. Trong mỗi con người luôn có một hệ thống giá trị, đó là những giá trị mà cá nhân thừa nhận. Hệ thống giá trị được cấu thành bởi 3 loại giá trị: (1) Giá trị phổ biến; (2) Giá trị nhóm; (3) Giá trị cá nhân.
Giá trị phổ biến (hay giá trị nhân loại) là những giá trị được sản sinh qua quá trình phát triển lâu dài của nhân loại, là kết tinh của những phẩm chất về đạo đức, văn hoá, lẽ sống, ứng xử... và được cả nhân loại thừa nhận bất kể dựa trên lập trường nào. Người thừa nhận những giá trị nhân loại thể hiện một lí trí lành mạnh, không đi ngược với xu thế phát triển tất yếu của nhân loại.
Giá trị nhóm: Đây là các nhóm xã hội, mỗi người đồng thời thuộc về nhiều nhóm xã hội khác nhau. Các nhóm xã hội có thể được hình thành từ địa vị xã hội, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, lứa tuổi, quyền lợi chung... Trong quá trình tồn tại, các nhóm xã hội sản sinh ra những giá trị riêng của nhóm. Quan trọng nhất đối với nhận thức của nhà sử học là sự chi phối của nhóm giai cấp và nhóm nghề nghiệp. Nhóm giai cấp là nói tới những người cùng giai cấp. Trong mọi thời đại luôn có giai cấp tiên tiến đứng ở trung tâm thời đại, quan điểm của giai cấp này thường là tiến bộ, tích cực, phù hợp với xu thế phát trỉển của lịch sử. Việc thừa nhận những quan điểm của giai cấp tiên tiến và dùng đó để luận giải lịch sử là cơ sở để đạt được sự khách quan trong nhận thức. Tuy nhiên không phải người thuộc giai cấp tiên tiến là mặc nhiên có tư tưởng tiên tiến. Tư tưởng tiên tiến là một loại giá trị đặc biệt, nó được xuất phát từ sự tồn tại của giai cấp tiên tiến nhưng đã được khái quát thành hệ thống tri thức khoa học, muốn có cần phải học hỏi. Điểm thuận lợi của những người thuộc giai cấp tiên tiến là họ có sẵn nền tảng kinh tế, xã hội để dễ dàng thừa nhận và tiếp nhận tư tưởng tiên tiến. Cần chú ý rằng, trong nhiều trường hợp, người không thuộc giai cấp tiên tiến nhưng bằng những cách thức khác nhau vẫn có thể nhận biết và mang lại cho mình tư tưởng tiên tiến.
Nhóm nghề nghiệp là nói tới nhóm các nhà sử học, những người làm công tác nghiên cứu lịch sử. Khoa học lịch sử cũng như các khoa học khác, luôn đặt ra những tiêu chí riêng, đặc trưng của nghề nghiệp. Tiêu chí của sử học là: Sự trung thực, sự tường minh, thông tin lịch sử chính xác... Tác phẩm sử học thiếu những tiêu chí trên sẽ chịu sự đào thải của nhóm.
Giá trị cá nhân: Mỗi người từ sự hiểu biết riêng của mình và từ tâm lí cá nhân mà có những đánh giá riêng, sở thích riêng, mô hình riêng... Tuy nhiên dù giá trị cá nhân hay tâm lí cá nhân có khác nhau nhưng trong thực tế luôn có những tiêu chí chung không thể không thừa nhận, những sự thật hiển nhiên không thể đổi khác. Những tiêu chí này là sự kiểm định lí trí của con người.
Ba loại giá trị trên đây hợp thành một hệ thống giá trị trong mỗi con người, từ hệ thống này mà con người xem xét mọi hiện tượng xã hội và đối với nhà sử học là nhận thức lịch sử. Nhà sử học trình bày kết quả nhận thức của mình thông qua các mệnh đề lịch sử, mệnh đề đánh giá, mệnh đề khái quát. Nội dung của các mệnh đề này hàm chứa thái độ của nhà sử học đối với hệ thống giá trị. Đây là một trong những cơ sở để kiểm tra khả năng nhận thức khách quan của nhà sử học.
Tóm lại, nhận thức lịch sử sẽ đạt được sự khách quan khi nhà sử học tích hợp được đầy đủ những yếu tố chủ quan và khách quan qui định quá trình khôi phục lịch sử và đánh giá lịch sử. Tuy nhiên vì sự khách quan nằm trong nhận thức chủ quan của người nghiên cứu nên khả năng đạt tới chân lí trong sử học luôn là tiệm cận.
 
Nguồn: khoalichsu.edu.vn